Điểm mới của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015

Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 số 92/2015/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 25/11/2015 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/07/2016, bao gồm các quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án nhân dân giải quyết các vụ việc dân sự và nhiều điểm mới cập nhật, thay thế cho Bộ luật Tố tụng Dân sự số 24/2004/QH11, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng Dân sự số 65/2011/QH12 năm 2011. Một trong những điểm mới quan trọng có thể kể đến việc sửa đổi, bổ sung quy định về chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự.

Có thể đánh giá rằng chứng minh và chứng cứ là một trong các chế định quan trọng nhất của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Trước khi Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 có hiệu lực, chế định này đã cho thấy những bất cập cần thiết phải sửa đổi, như quy định nghĩa vụ giao nộp chứng cứ của đương sự, chứng cứ đương sự giao nộp đến đâu tòa án xét xử đến đấy.

Quy định như vậy chưa thực sự phù hợp với tình hình của nước ta khi mà nhận thức pháp luật của người dân của nước ta còn thấp; bên cạnh đó, có những trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được tài liệu chứng cứ được cơ quan, tổ chức khác lưu giữ; hoặc có những trường hợp thẩm phán không có căn cứ pháp luật để thực hiện thủ tục thu thập tài liệu chứng cứ… Do vậy, việc BLTTDS 2015 có những sửa đổi bổ sung căn bản về chế định này là rất cần thiết.

I. ĐIỂM MỚI CỦA BLTTDS NĂM 2015 VỀ CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

1. Về nghĩa vụ chứng minh

BLTTDS 2015 kế thừa quy định của BLTTDS 2004 về nghĩa vụ chứng minh: nghĩa vụ chứng minh thuộc về người yêu cầu. Nhưng xem xét rằng có những người yếu thế không thể chứng minh được yêu cầu của mình. Cho nên, BLTTDS 2015 quy định một số trường hợp nhất định thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về người bị yêu cầu, cụ thể:

  • Nguyên đơn khởi kiện trong trường hợp bảo vệ lợi ích cho người tiêu dùng, mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại.
  • Đương sự là người lao động trong vụ án lao động mà không cung cấp, giao nộp được cho Tòa án tài liệu, chứng cứ vì lý do tài liệu, chứng cứ đó đang do người sử dụng lao động quản lý, lưu giữ thì người sử dụng lao động có trách nhiệm cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ đó cho Tòa án. Đặc biệt đối với trường hợp người lao động khởi kiện vụ án đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thuộc trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc trường hợp không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về người sử dụng lao động.

2. Về nguồn chứng cứ xác định chứng cứ: 

Điều 94 BLTTDS 2015 trong đó bổ sung thêm các nguồn chứng cứ sau: dữ liệu điện tử; văn bản ghi nhận sự kiện pháp lý do người có chức năng lập; văn bản công chứng, chứng thực. Theo đó, Điều 95 BLTTDS 2015 quy định cách xác định các chứng cứ này như sau:

  • Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
  • Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc lập văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
  • Văn bản công chứng, chứng thực được coi là chứng cứ nếu việc công chứng, chứng thực được thực hiện theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.

3. Về giao nộp chứng cứ

Điều 96 BLTTDS 2015 quy định đương sự có nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Tòa án, việc giao nộp chứng cứ phải được lập biên bản. BLTTDS 2015 quy định chặt chẽ hơn về thời hạn giao nộp chứng cứ: không được vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử.

Khác với quy định của BLTTDS 2004 rằng chứng cứ đương sự cung cấp đến đâu, thẩm phán giải quyết đến đấy. Điều 96 BLTTDS 2015 quy định thẩm phán có trách nhiệm xem xét, nếu thấy tài liệu chứng cứ mà đương sự giao nộp chưa đủ thì thẩm phán phải có trách nhiệm yêu cầu đương sự cung cấp tài liệu, chứng cứ. Và nhằm đảm bảo các chứng cứ được công khai để thực hiện việc tranh tụng, thì đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án thì họ phải sao gửi tài liệu, chứng cứ cho các đương sự khác.

4. Về thu thập chứng cứ

Khác với BLTTDS 2004 chưa quy định rõ cơ quan, tổ chức, cá nhân thu thập tài liệu chứng cứ bằng các biện pháp nào, Điều 97 BLTTDS 2015 quy định cụ thể các biện pháp thu thập chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tố chức và các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án. BLTTDS 2015 cũng quy định rất cụ thể, trường hợp nào lấy lời khai, trường hợp nào đối chất … ví dụ thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai khi nào đương sự đã trình bày mà có điểm chưa rõ. Quy định nghĩa vụ của thẩm phán trong 3 ngày làm việc kể từ khi thu thập tài liệu, chứng cứ, phải thông báo về tài liệu, chứng cứ đó cho đương sự.

5. Về đánh giá chứng cứ

So với BLTTDS 2004, Điều 108 BLTTDS 2015 thay từ “Khẳng định giá trị pháp lý của chứng cứ” bằng từ “Khẳng định tính hợp pháp, tính liên quan, giá trị chứng minh của từng chứng cứ”. Như vậy BLTTDS 2015 tiếp tục khẳng định Tòa án là chủ thể có nghĩa vụ đánh giá chứng cứ, nhưng quy định rõ ràng hơn.

Ngoài ra, về chứng cứ và chứng minh BLTTDS 2015 còn sửa đổi, bổ sung nhiều quy định khác như: trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong việc thực hiện những biện pháp thu thập chứng cứ nhằm bảo đảm việc thu thập chứng cứ được nhanh chóng, thuận lợi hơn, khắc phục những vướng mắc trong thực tiễn; sửa đổi, bổ sung quy định về trưng cầu giám định, định giá tài sản, thẩm định giá tài sản để phù hợp với Luật giám định tư pháp, Luật giá đồng thời khắc phục khó khăn, vướng mắc hiện hành về thẩm định giá, định giá tài sản.

II. Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật các quy định về chứng cứ, chứng minh

Bên cạnh các kết quả đã đạt được của các quy định về chứng minh trong BLTTDS 2015 thì vẫn còn có những hạn chế cần khắc phục và một số kiến nghị hoàn thiện như sau:

1. Thiếu cơ chế bảo đảm thi hành cho một số quy định pháp luật 

Đối với quy định tại khoản 5 Điều 96 BLTTDS 2015 về nghĩa vụ chuyển giao tài liệu, chứng cứ giữa các đương sự, BLTTDS 2015 không quy định về thời hạn các đương sự có nghĩa vụ chuyển giao tài liệu, chứng cứ cho nhau và không quy định hậu quả pháp lý khi các bên đương sự không thực hiện nghĩa vụ chuyển giao. Do vậy, thực tế hiện nay ở tại các Tòa án cho thấy, do không có quy định về hậu quả pháp lý nên gần như các đương sự không thực hiện nghĩa vụ chuyển giao tài liệu, chứng cứ cho nhau.

Do đó, kiến nghị khoản 5 Điều 96 BLTTDS 2015 nên bổ sung theo hướng: “Khi đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án thì họ phải thực hiện ngay việc sao gửi tài liệu, chứng cứ đó cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự khác; đối với tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này hoặc tài liệu, chứng cứ không thể sao gửi được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự khác trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.”

II. Cần bổ sung quy định đối với trường hợp cản trở người làm chứng, đe dọa người làm chứng

Khoản 7 Điều 78 BLTTDS 2015 quy định người làm chứng có nghĩa vụ: “Bồi thường thiệt hại và chịu trách nhiệm trước pháp luật do khai báo sai sự thật gây thiệt hại cho đương sự hoặc cho người khác.”. Tuy nhiên, trên thực tế có những chủ thể dùng lợi ích về vật chất để “mua chuộc” người làm chứng, hoặc ép buộc, đe dọa người làm chứng để người làm chứng đưa ra những lời khai sai sự thật. Những chủ thể này cũng cần phải chịu trách nhiệm thích đáng.

Tham khảo khoản 4 Điều 276 Luật Tố tụng dân sự nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa có quy định: “Bất kỳ ai sử dụng bạo lực, đe dọa, hối lộ hoặc bất kỳ cách nào khác gây cản trở nhân chứng đưa ra lời khai hoặc xúi giục người khác đưa ra lời khai sai sẽ bị xử lý hình sự”. Quy định trên đây của Luật Tố tụng dân sự Trung Hoa có thể giúp làm giảm bớt những hành vi có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến thủ tục thu thập chứng cứ. Vì thế, kiến nghị BLTTDS 2015 cũng nên đưa trường hợp này vào pháp luật hiện hành, để tránh những trường hợp mà đương sự bị chịu áp lực quá lớn dẫn đến sự không tự nguyện khi tham gia lấy lời khai, hoặc tham gia nhưng khai báo thiếu trung thực.

III. Pháp luật tố tụng hiện hành chưa có quy định cụ thể về việc trả lại chứng cứ (là các giấy tờ bản chính) cho đương sự sau khi xét xử và bản án đã có hiệu lực thi hành

Trên thực tế có nhiều trường hợp đương sự không kịp chuẩn bị bản sao y chứng thực tài liệu nên đã nộp bản gốc cho Tòa án như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận kết hôn,… Sau đó, đương sự có yêu cầu Toà án trả lại tài liệu bản gốc, tuy nhiên nhiều trường hợp trên thực tế Toà án không trả lại giấy tờ đó cho đương sự với lý do “để lưu hồ sơ”. Tham khảo khoản 1 Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự Liên Bang Nga“Sau khi bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, thư chứng được trả lại theo yêu cầu của người xuất trình. Trong trường hợp này, bản sau có xác nhận của Toà án được lưu lại cùng với hồ sơ vụ án.”. Như vậy, pháp luật Nga đã quy định một cách rõ ràng, cụ thể về nghĩa vụ trả lại tài liệu, hồ sơ là bản gốc khi có yêu cầu của đương sự. Quy định như vậy còn giúp giảm tải chi phí của xã hội liên quan đến thủ tục công chứng, chứng thực tài liệu.

Do đó, kiến nghị BLTTDS 2015 cũng nên đưa ra quy định cụ thể về việc Toà án có nghĩa vụ hay không có nghĩa vụ trả lại hồ sơ, tài liệu là bản gốc trong trường hợp đương sự có yêu cầu. Và quy định rõ ràng trường hợp nào thì đương sự được trả lại theo yêu cầu của mình.

IV. Nhiều quy định chưa có văn bản hướng dẫn, giải thích cụ thể dẫn đến việc áp dụng chưa thống nhất, khó đảm bảo tính khách quan trong chứng minh

1. Quy định tại điểm a khoản 1 Điều 92 BLTTDS 2015

Điểm a khoản 1 Điều 92 BLTTDS 2015 quy định “Những tình tiết, sự kiện rõ ràng mà mọi người đều biết và được Tòa án thừa nhận” thì không phải chứng minh. Như vậy xác định “mọi người” ở đây là những ai? Nếu theo nghĩa thông thường mọi người là tất cả con người thì bằng thủ tục nào để có thể khẳng định tình tiết, sự kiện đó được biết bởi tất cả con người. Rõ ràng, thủ tục này là gần như không thể thực hiện được bởi khoảng cách về địa lý, về ngôn ngữ là khó có thể vượt qua.  Như vậy, việc thừa nhận những tình tiết, sự kiện mang tính đương nhiên, chân lý đôi khi phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí chủ quan của Thẩm phán, và có thể dẫn đến sự không thống nhất trong việc áp dụng của các Tòa án khác nhau.

Do đó, kiến nghị BLTTDS 2015 nên bổ sung hướng dẫn chi tiết cách xác định“những tình tiết, sự kiện rõ ràng mà mọi người đều biết và được Tòa án thừa nhận”  và các tiêu chí cụ thể đề Tòa án có thể xem xét thừa nhận.

2. Quy định tại Khoản 2 Điều 97 BLTTDS 2015

Khoản 2 Điều 97 BLTTDS 2015 bổ sung thêm biện pháp thu thập chứng cứ là xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú nhưng lại không quy định rõ biện pháp này Tòa án tiến hành khi có yêu cầu của đương sự hay Tòa án được tự thực hiện khi xét thấy cần thiết cũng như trình tự, thủ tục thực hiện biện pháp này. Trên thực tế, việc xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự ở nơi cư trú có liên quan nhiều tới hoạt động quản lý của Cơ quan Công an ở địa phương. Do vậy, biện pháp này cần có sự phối hợp của Cơ quan Công an hoặc Tổ trưởng dân phố, xã, phường.

Từ những lý do trên, cần phải quy định cụ thể về trách nhiệm của chiến sỹ Công an, Cơ quan Công an khi không hỗ trợ Tòa án trong việc xác minh. Bên cạnh đó, BLTTDS 2015 cũng cần có hướng dẫn cụ thể biện pháp thu thập chứng cứ “xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú” rằng Tòa án tiến hành khi có yêu cầu của đương sự hay Tòa án được tự thực hiện khi xét thấy cần thiết và hướng dẫn trình tự, thủ tục thực hiện để các Tòa án thống nhất trong việc thực hiện biện pháp thu thập chứng cứ này.

3. Quy định tại khoản 1 Điều 96 BLTTDS 2015 và khoản 3 Điều 106 BLTTDS 2015

Khoản 1 Điều 96 BLTTDS 2015 và khoản 3 Điều 106 BLTTDS 2015 quy định khi đương sự không giao nộp hoặc giao nộp không đầy đủ tài liệu, chứng cứ do Tòa án yêu cầu và khi Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện yêu cầu cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ của Tòa án thì cần phải có “lý do chính đáng”. Tuy nhiên, BLTTDS 2015 lại chưa giải thích rõ trường hợp nào được coi là “lý do chính đáng”, dẫn đến việc xem xét lý do có chính đáng hay không hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của thẩm phán hoặc các cơ quan, tổ chức, cá nhân đang giữ tài liệu, chứng cứ. Điều này không chỉ dẫn đến sự thiếu đồng bộ, mà còn có thể làm phát sinh sự thiếu minh bạch, công bằng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự.

Như vậy, kiến nghị BLTTDS 2015 cần có hướng dẫn giải thích rõ những lý do nào được xem là “lý do chính đáng” hoặc đưa ra những tiêu chí cụ thể, rõ ràng để một lý do được xem là “lý do chính đáng” cho các trường hợp tại khoản 1 Điều 96 BLTTDS 2015 và khoản 3 Điều 106 BLTTDS 2015.

III. KẾT LUẬN

Chứng minh là hoạt động tố tụng cơ bản trong tố tụng dân sự, làm cơ sở cho Tòa án giải quyết vụ việc dân sự được chính xác và đúng pháp luật. Chính vì vậy, chứng minh trong tố tụng dân sự mang tính chất quyết định đến kết quả giải quyết vụ việc dân sự. Về mặt xã hội, chứng minh không chỉ có ý nghĩa đối với các đương sự trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, mà còn có ý nghĩa đối với Tòa án trong việc giải quyết vụ việc dân sự. Để đảm bảo các quy định về chứng minh trong tố tụng dân sự, công tác hoàn thiện pháp luật đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Bên cạnh đó, cũng cần nâng cao năng lực của cơ quan tiến hành tố tụng, nâng cao hiểu biết pháp luật của người tham gia tố tụng.

Mọi thông tin hồ sơ giấy tờ vui lòng gửi về văn phòng công ty luật MULTI LAW tại Hà Nội.
Bạn hãy nhấc máy và gọi điện đến 0946.220.880 hoặc gửi qua hộp thư hỗ trợ. chúng tôi sẽ giúp bạn giải quyết các vấn đề và thủ tục mà bạn đang gặp phải. Với đội ngũ luật sư giỏi, uy tín và chuyên nghiệp bởi đoàn Luật Sư Tp. Hà Nội.
----------------------------------------
CÔNG TY LUẬT MULTI LAW
Trụ sở 1: Tầng 5, Số 1, Phố Đỗ Hành, phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Trụ sở 2: Tầng 20, phòng 2004, tòa A2, chung cư HD Mon, Nguyễn Cơ Thạch, Mỹ Đình, Nam Từ Liêm, Hà Nội.
Hotline: 0946.220.880
Email: luatsu@luatmultilaw.com
Xem thêm 1: thủ tục ly hôn, ly hôn trọn gói, Ly hôn đơn phương trọn gói, Ly hôn thuận tình trọn gói, Ly hôn có yếu tố nước ngoài, Tranh chấp tài sản khi ly hôn, Tranh chấp tài sản khi ly hôn, công ty luật uy tín tại Hà Nội.