Ai phải chịu án phí khi yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế?

an phi dan su

Tùy thuộc vào từng trường hợp mà xác định người chịu án phí trong trường hợp yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế.

Án phí sơ thẩm

Theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH, đối với vụ án liên quan đến chia di sản thừa kế thì nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm được xác định như sau:

– Khi các bên đương sự không xác định được phần di sản của mình trong khối di sản thừa kế và có một trong các bên yêu cầu Tòa án giải quyết chia di sản thừa kế đó thì mỗi bên đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo mức tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia trong khối di sản thừa kế;

– Đối với phần Tòa án bác đơn yêu cầu thì người yêu cầu chia di sản thừa kế không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm;

– Trường hợp đương sự yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế không phải là tài sản của họ thì đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch.

Nếu đương sự đề nghị chia di sản thừa kế mà cần xem xét việc thực hiện nghĩa vụ về tài sản với bên thứ ba từ di sản thừa kế đó thì:

– Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần tài sản họ được chia sau khi trừ đi giá trị tài sản thực hiện nghĩa vụ với bên thứ ba; các đương sự phải chịu một phần án phí ngang nhau đối với phần tài sản thực hiện nghĩa vụ với bên thứ ba theo quyết định của Tòa án;

– Người thứ ba là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập hoặc có yêu cầu nhưng yêu cầu đó được Tòa án chấp nhận thì không phải chịu án phí đối với phần tài sản được nhận;

Người thứ ba có yêu cầu độc lập nhưng yêu cầu đó không được Tòa án chấp nhận phải chịu án phí dân sự có giá ngạch đối với phần yêu cầu không được chấp nhận.

Án phí phúc thẩm

Người nộp đơn xin phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm, trừ trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc được miễn nộp tiền tạm ứng án phí. Nếu Tòa án cấp phúc thẩm giữa nguyên bản án, quyết định sơ thẩm thì người nộp đơn kháng cáo phải chịu án phí này.

Tuy nhiên, nếu Tòa án cấp phúc thẩm sửa hoặc hủy bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo thì đương sự kháng cáo liên quan đến phần bản án, quyết định phải sửa không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Lúc này, Tòa án phúc thẩm có trách nhiệm xác định lại nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Khi ly hôn, tài sản nào không bị chia đôi?

ly hon

Thông thường mọi người sẽ nghĩ khi ly hôn mọi tài sản sẽ được chia đôi. Tuy nhiên, theo luật quy định không phải tài sản nào cũng bắt buộc phải chia đôi. Vậy tài sản nào không bị chia đôi khi ly hôn?

Chế độ tài sản của vợ chồng khi ly hôn

Khi đăng ký kết hôn, giữa vợ và chồng không chỉ phát sinh quan hệ hôn nhân theo quy định của pháp luật mà còn phát sinh các quan hệ khác như: tài sản, con chung…

Theo quy định tại Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.

Ngoài ra, trong thời kỳ hôn nhân, giữa vợ chồng còn có thể có tài sản riêng. Những tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nếu hai vợ chồng thỏa thuận là tài sản riêng thì chúng cũng là tài sản riêng.

Những tài sản không bị chia đôi

Mặc dù có tài sản riêng và tài sản chung nhưng trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có thể nhập tài sản riêng vào tài sản chung, cũng có thể phân chia tài sản chung vợ chồng. Trong đó sau khi ly hôn, những tài sản không bị chia đôi gồm:

1/ Những tài sản theo thỏa thuận

Bởi việc phân chia tài sản sau khi ly hôn căn cứ trên nguyên tắc tự nguyện và thỏa thuận của hai bên được quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Khi đó, Tòa án căn cứ vào thoải thuận của các bên để phân định tài sản cho mỗi bên.’

Theo đó, nếu hai vợ chồng thỏa thuận được tài sản nào không phải chia đôi thì Tòa sẽ công nhận việc không chia đôi tài sản trong bản án. Ngược lại, với những tài sản chung khác, Tòa sẽ chia đôi sau khi tính đến các yếu tố:

– Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

– Công sức đóng góp của vợ, chồng

– Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên để có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

– Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng

2/ Tài sản riêng của vợ chồng

Ngoài những tài sản không bị chia đôi do thỏa thuận thì tài sản riêng của vợ chồng sẽ không bị chia đôi. Theo Điều 11 Nghị định 126/2014/NĐ-CP, các tài sản sau đây được coi là tài sản riêng và không bị chia đôi khi ly hôn:

– Quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ

– Tài sản mà vợ, chồng xác lập quyền sở hữu riêng theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác.

– Khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng.

Ngoài ra, Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cũng quy định các loại tài sản sau đây được coi là tài sản riêng của vợ, chồng:

– Tài sản có trước khi kết hôn;

– Tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân;

– Tài sản theo thỏa thuận là tài sản riêng.

 

Chế độ tài sản chung, riêng khi ly hôn: Những điều có thể bạn chưa biết

tai san rieng

Những tranh chấp phát sinh liên quan đến vợ chồng phần nhiều lin quan đến tài sản, Đó là lý do vì sao Luật Hôn nhân gia đình có quy định về việc thỏa thuận tài sản chung, tài sản riêng trước khi kết hôn. Dưới đây là những điều mà các cặp đôi cần biết về chế độ tài sản trước, trong và trường hợp nếu  có ly hôn

* Thỏa thuận chế độ tài sản tiền hôn nhân:

Thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng được lập khi nào?

– Chỉ được lập và công nhận khi 2 người chưa đăng ký kết hôn, lưu ý chưa đăng ký kết hôn nghĩa là 2 người chưa ra UBND xã, phường để làm thủ tục đăng ký kết hôn chứ không phải là chưa tổ chức đám cưới đâu nhé.

– Hai người cùng đoàn kết, đồng thuận, và quyết định lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận

– Được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực.

– Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn.

Những lưu ý khi lập Văn bản thỏa thuận này: Xem chi tiết TẠI ĐÂY

Về việc yêu cầu chia tài sản: Tài sản chung vợ chồng có thể được chia ngay trong thời kỳ hôn nhân, khi ly hôn hoặc sau khi ly hôn mà khi giải quyết ly hôn mà các bên chưa phân chia về tài sản.

* Chế độ tài sản trong thời kỳ hôn nhân

Cách chứng minh tài sản riêng

Để có thể chứng minh tài sản riêng khi ly hôn, chúng ta phải có bằng chứng chứng minh tài sản đó thuộc các trường hợp là tài sản tiêng theo quy định của Luật hôn nhân gia đình:

– Đối với tài sản có trước khi kết hôn: có thể là hợp đồng mua bán tài sản, các hóa đơn chứng từ chứng minh việc mua bán chuyển nhượng, giấy chứng nhận quyền sở hữu…

– Đối với tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng: cách chứng minh tài sản riêng là cung cấp các văn bản chứng minh quyền thừa kế hợp pháp, hợp đồng tặng cho và giấy tờ chứng minh hoàn tất việc tặng cho….

– Đối với tài sản được chia riêng trong thời kỳ hôn nhân thì phải nộp văn bản thỏa thuận chia tài sản chung được công chứng theo quy định của pháp luật.

– Tài sản phục vụ nhu cầu cấp thiết của vợ chồng như các đồ dùng, tư trang cá nhân…

Đồng thời theo qui định tại Điều 11 Nghị định 126/2014/NĐ-CP về tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân gồm:

– Quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ theo qui định của pháp luật sở hữu trí tuệ.

– Tài sản mà vợ, chồng xác lập quyền sở hữu riêng theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác.

– Khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ chồng nhận được theo qui định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng, quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng.

Theo Điều 14 Nghị định 126/2014/NĐ-CP, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không làm chấm dứt chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định.

Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng

– Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn;

– Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định tại khoản 4 Điều 44 hoặc quy định tại khoản 4 Điều 37 của Luật Hôn nhân gia đình 2014;

–  Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình;

–  Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng.

 Hậu quả của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng.

* Chế độ Tài sản khi LY HÔN:

Trong vấn đề chia tài sản khi ly hôn nếu bên có tài sản không chứng minh được đó là tài sản riêng thì đương nhiên sẽ được xác định là tài sản chung của vợ chồng.

Về nguyên tắc chung chia tài sản khi ly hôn thì tài sản chung sẽ được chia đôi nhưng khi giải quyết trong những trường hợp cụ thể tòa sẽ xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này…

Người ngoại tình sẽ bất lợi khi chia tài sản

Theo Thông tư liên tịch 01/2016 giữa TAND Tối cao, VKSND Tối cao và Bộ Tư pháp, vợ chồng khi ly hôn có quyền tự thỏa thuận về toàn bộ vấn đề, bao gồm phân chia tài sản.

Trường hợp nhờ tòa án phân xử thì HĐXX sẽ tính đến một số yếu tố để xác định tỷ lệ tài sản của mỗi người. Thẩm phán dựa vào lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền và nghĩa vụ nhân thân, tài sản dẫn đến ly hôn để ra phán quyết. Ví dụ, nếu người chồng có hành vi bạo lực gia đình, ngoại tình thì tòa án xem xét yếu tố “lỗi” này để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên.

Phát hiện tài sản bí mật

Khi đã ly hôn, về mặt pháp lý quan hệ vợ – chồng đã chấm dứt. Tòa án đã phân chia tài sản và con cái theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên không ít trường hợp sau đó phát hiện chồng hoặc vợ có tài sản bí mật hình thành trong thời kỳ hôn nhân.

Trong trường hợp này, nếu không có căn cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung và phân chia theo luật định.

3 câu hỏi thường gặp về tài sản của vợ chồng khi ly hôn

tranh chap tai san

1: Tài sản chung, tài sản riêng

– Tài sản chung:

Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 Luật hôn nhân gia đình 2014(Cụ thể: trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng); tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

– Tài sản riêng:

Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng.

Ngoài ra, theo Điều 14 Nghị định 126/2014/NĐ-CP, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không làm chấm dứt chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định.

2: Người ngoại tình sẽ bất lợi khi chia tài sản?

Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố: Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung; lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập; bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; và lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Như vậy, theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014, về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì mặc dù vẫn là duy trì nguyên tắc “chia đôi” nhưng đã có bổ sung yếu tố lỗi vào một trong những căn cứ trong phân chia tài sản chung giữa vợ chồng.

Cụ thể, điểm d khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC, quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn như sau:
  1. Trường hợp áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây để xác định tỷ lệ tài sản mà vợ chồng được chia: […]
  2. d) “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng”là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn.

Thẩm phán sẽ dựa vào lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền và nghĩa vụ nhân thân, tài sản dẫn đến ly hôn.

Tuy nhiên, việc giải quyết chế độ tài sản vợ chồng vẫn do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng thì Tòa án mới giải quyết theo quy định của Luật. Quy định này góp phần vào việc ổn định quan hệ hôn nhân và gia đình đồng thời bảo vệ quyền lợi của bên “bị hại” trong quan hệ hôn nhân và gia đình, mà phần lớn là phụ nữ.

3: Trách nhiệm liên đới các khoản nợ

Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định, vợ chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện.

Mặt khác, theo Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 ghi nhận: Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ sau thì sẽ dùng tài sản chung vợ chồng để giải quyết: nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập; nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.

Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình; nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường; nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.

Từ các quy định trên, ta thấy sẽ có hai trường hợp để xác định được trách nhiệm liên đới của vợ chồng sau ly hôn như sau:

– Trường hợp 1: Giao dịch của vợ hoặc chồng vay dùng để sử dụng vào nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện giữa vợ chồng như: chi phí sửa chữa, xây dựng nhà ở, chăm sóc sức khỏe các thành viên trong gia đình, việc học hành của các con…; dù vợ/chồng không bàn bạc với nhau và người kia cũng không ký vào hợp đồng vay thì về nguyên tắc, bên vợ/chồng đó cũng vẫn phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ.

– Trường hợp 2: Giao dịch của vợ hoặc chồng dùng để sử dụng vào mục đích nhu cầu cá nhân của một bên vợ hoặc chồng như: đầu tư kinh doanh riêng, mua bán các vật dụng sử dụng cá nhân, chơi cờ bạc, số đề…; nếu bên vợ/chồng còn lại đưa ra những chứng cứ chứng minh việc bên kia đứng ra vay tiền không được đưa vào sử dụng chung thì không có nghĩa vụ liên đới trả nợ.

Cách chứng minh tài sản riêng trước khi kết hôn

tai san rieng

Hôn nhân luôn là vấn đề muôn thuở không chỉ riêng ai, khi mục đích hôn nhân không đạt được không ít thì nhiều vấn đề tranh chấp, phân chia tài sản sẽ diễn ra. Đối với tài sản chung thì mình tạm thời không đề cập đến nếu có chia cũng dễ và có nguyên tắc để xác định nếu không chứng minh được. Còn tài sản riêng, nhiều trường hợp dỡ khóc, dỡ cười khi tài sản riêng vô tình trở thành tài sản chung vì không chứng minh được đó là tài sản của mình.

Để hạn chế một số tranh chấp tài sản chung của vợ chồng cũng như có cơ sở xác định tài sản là của chung hay của riêng, pháp luật về hôn nhân và gia đình đã có một số quy định để điều chỉnh vấn đề này.

Điều 43 Luật hôn nhân gia định 2014 quy định:

– Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

– Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

tai san rieng

Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.

Như vậy, về nguyên tắc, tài sản được tạo lập trước khi kết hôn là tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng trừ trường hợp người đó đồng ý hoặc thỏa thuận nhập tài sản đó vào khối tài sản chung của hai vợ chồng.

Trường hợp nếu có phát sinh tranh chấp về tài sản giữa hai vợ chồng thì bạn cần chứng minh được tài sản đó là tài sản do bạn tạo lập trước khi kết hôn và bạn không đồng ý về việc nhập tài sản đó vào làm tài sản chung (giấy tờ chứng minh gồm giấy chứng nhận kết hôn; giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên của bạn; sổ tiết kiệm…).

Nếu chưa kết hôn, những tài sản được tặng, cho thừa kế nếu bạn không muốn phiền hà về sau thì nên có hợp đồng tặng cho cụ thể ghi rõ là tặng cho riêng khoản tiền, tài sản này. Hợp đồng tặng cho được công chứng để đảm bảo về mặt pháp lý.

Trường hợp đã kết hôn nếu vẫn mong muốn xác nhận đó là tài sản riêng, thì vợ chồng có thể cùng lập văn bản thỏa thuận tài sản riêng của vợ chồng  tại Văn phòng công chứng…

Tranh chấp dân sự là gì? Quy trình giải quyết tranh chấp dân sự?

tranh chap dan su

Mỗi ngày, chúng ta tham gia vào hàng trăm loại giao dịch dân sự khác nhau. Việc mâu thuẫn, bất hòa về quyền và lợi ích hợp pháp giữa các bên là điều khó tránh khỏi.  Do đó, nhiều vụ án tranh chấp dân sự ngày càng tăng lên. Để tìm hiểu như thế nào là tranh chấp dân sự? Quy trình giải quyết tranh chấp dân sự gồm những bước nào? Mời quý khách tham khảo bài viết sau đây.

1: Tranh chấp dân sự là gì?

Hiện nay, pháp luật chưa có một khái niệm rõ ràng về tranh chấp dân sự. Tranh chấp dân sự được hiểu là những tranh chấp xảy ra giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự về các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản được pháp luật bảo vệ.

Các loại tranh chấp dân sự phổ biến hiện nay là: tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, tranh chấp về hợp đồng dân sự, tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, các vấn đề về ly hôn,…

2: Phương thức giải quyết tranh chấp dân sự

Khi phát sinh vấn đề cần giải quyết tranh chấp dân sự, các bên đều mong muốn tìm được biện pháp giải quyết tranh chấp, đảm bảo tốt nhất quyền lợi của mình, ít tốn kém thời gian và tiền bạc. Vì vậy, lựa chọn phương thức giải quyết  tranh chấp là vô cùng quan trọng. Hiện nay, phương thức giải quyết tranh chấp dân sự: thương lượng, hòa giải, khởi kiện.

Thương lượng

Thương lượng là phương thức giải quyết đầu tiên trong quá trình giải quyết tranh chấp. Các bên chủ động gặp gỡ, bàn bạc, thỏa thuận về quyền và lợi ích hợp pháp cũng như nghĩa vụ của mỗi bên.

Pháp luật về giải quyết tranh chấp không có quy định bắt buộc các bên phải tiến hành thương lượng. Tất cả đều phụ thuộc vào thiện chí tự giải quyết của các bên. Phương thức thương lượng rất được các chủ thể ưu tiên lựa chọn vì phương thức này không chịu sự điều chỉnh của pháp luật, không bị bó buộc bởi các quy định về quy trình tổ chức thương lượng, thành phần tham gia, thời gian và không tốn tiền bạc.

Do các bên tự giải quyết nên sẽ giảm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường, uy tín của các bên. Bởi vì không có sự điều chỉnh của quy phạm pháp luật cho nên không có sự cưỡng chế thi hành kết quả thương lượng.

Hòa giải

Hòa giải là việc các bên tiến hành “thương lượng giải quyết tranh chấp” với sự hỗ trợ của người trung gian. Đây cũng được xem là phương thức giải quyết tranh chấp không chịu sự điều chỉnh của pháp luật, được thực hiện hòa toàn dựa trên thiện chí của các bên.

So với việc lựa chọn phương thức thương lượng để giải quyết tranh chấp thì khi tiến hành hòa giải các bên được thỏa thuận lựa chọn ra một bên trung gian, độc lập, có kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm để giải quyết tranh chấp, đưa ra các lời khuyên về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên.

Người trung gian có thể là cá nhân, tổ chức luật sư, …Ý kiến của người trung gian chỉ mang tính tham khảo. Phương thức hòa giải cũng được các bên lựa chọn vì thủ tục nhanh gọn, các bên có quyền định đoạt, không làm ảnh hưởng đến mối quan hệ hợp tác giữa các bên, không làm mất uy tín của hai bên.

Cũng giống như phương thức thương lượng thì các cam kết, thỏa thuận từ kết quả của quá trình hòa giải không bắt buộc cưỡng chế thi hành mà phụ thuộc vào thiện chí, sự tự nguyện của các bên.

Khởi kiện

Khi các phương thức thương lượng, hòa giải không đem lại kết quả, các chủ thể mới lựa chọn phương thức khởi kiện lên Tòa án để giải quyết.

Đây là phương thức có sự tham gia giải quyết của đại diện quyền lực nhà nước là Tòa án nhân dân. Vì vậy quy trình giải quyết tranh chấp phải tuân thủ quy định chặt chẽ của pháp luật tố tụng. Đồng thời, bản án, quyết định của Tòa án được đảm bảo thi hành bằng hệ thống cơ quan thi hành án của nhà nước.

Khi khởi kiện, các bên phải xác định được ĐỐI TƯỢNG TRANH CHẤP LÀ GÌ. Điều này nhằm giúp việc xác định cơ quan có thẩm quyền giải quyết đồng thời tạo điều kiện để quá trình khởi kiện thuận lợi hơn.

3: Quy trình giải quyết tranh chấp dân sự tại Tòa án

Theo Khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) 2015 thì khi có tranh chấp dân sự xảy ra, thẩm quyền của Tòa án được xác định như sau:

Hầu hết, Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú có thẩm quyền giải quyết tranh chấp.

Tuy nhiên, đối với tranh chấp mà có đương sự hoặc có tài sản ở nước ngoài theo khoản 3 Điều 35 BLTTDS thì do Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết.

Ngoài ra, nguyên đơn có quyền lựa chọn tòa án giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 40 BLTTDS 2015.

Sau khi xác định được thẩm quyền giải quyết, các bên nộp đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện theo quy định tại Điều 189 BLTTDS 2015 tại tòa án có thẩm quyền. Người khởi kiện có thể nộp đơn trực tiếp tại Tòa án, gửi qua đường bưu chính, hoặc gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua cổng thông tin điện tử Tòa án (nếu có).

Nếu xét thấy vụ án thuộc đúng thẩm quyền thì Thẩm phán thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí.

Người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp biên lai cho Tòa án để tránh trường hợp Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án quyết định phân công Thẩm phán giải quyết vụ án, đồng thời Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản đến các đương sự và cơ quan, tổ chức có liên quan về việc đã thụ lý vụ án. (Điều 196, Điều 197 BLTTDS 2015).

Quá trình giải quyết vụ án được tiến hành theo thủ tục sơ thẩm và các thủ tục khác theo quy định chung về tố tụng dân sự.

Hướng dẫn giải quyết tranh chấp nhà đang thế chấp ngân hàng

the chap tai san

Giải quyết tranh chấp nhà đang thế chấp ngân hàng được thực hiện theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, tranh chấp xảy ra về vấn đề này vô cùng phức tạp bởi nó liên quan đến quyền và lợi ích của bên thứ ba. Phạm vi bài viết dưới đây sẽ hướng dẫn bạn đọc hướng giải quyết đối với tranh chấp được nêu ở trên.

Thế chấp tài sản là gì?

Thế chấp tài sản là một trong chín biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại Điều 317 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015.

Theo đó, thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là “bên thế chấp“) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (như vay vốn, trả nợ)và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp). Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ. Các bên có thể thỏa thuận giao “tài sản cho người thứ ba giữ”.

Thế chấp nhà tại ngân hàng là việc bên thế chấp dùng tài sản là bất động sản (nhà) thuộc sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên nhận thế chấp là ngân hàng.

Quyền và nghĩa vụ của các bên

Nghĩa vụ của bên thế chấp

Căn cứ Điều 320 Bộ luật Dân sự 2015 quy định nghĩa vụ của bên thế chấp:

  • Giao giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp (như sổ đỏ) trong trường hợp các bên có thỏa thuận, trừ trường hợp luật có quy định khác.
  • Bảo quản, giữ gìn tài sản thế chấp.
  • Áp dụng các biện pháp cần thiết để khắc phục, kể cả phải ngừng việc khai thác công dụng tài sản thế chấp nếu do việc khai thác đó mà tài sản thế chấp có nguy cơ mất giá trị hoặc giảm sút giá trị.
  • Khi tài sản thế chấp bị hư hỏng thì trong một thời gian hợp lý bên thế chấp phải sửa chữa hoặc thay thế bằng tài sản khác có giá trị tương đương, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
  • Cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp.
  • Giao tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp để xử lý khi thuộc một trong các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm.
  • Thông báo cho bên nhận thế chấp về các quyền của người thứ ba đối với tài sản thế chấp, nếu có; trường hợp không thông báo thì bên nhận thế chấp có quyền hủy hợp đồng thế chấp tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sản thế chấp.
  • Không được bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp, trừ trường hợp được bên nhận thế chấp đồng ý hoặc theo quy định của pháp luật.

Quyền của bên thế chấp

Căn cứ Điều 321 BLDS 2015 quy định QUYỀN của BÊN THẾ CHẤP:

  • Khai thác công dụng, hưởng lợi tức từ tài sản thế chấp, trừ trường hợp lợi tức cũng là tài sản thế chấp theo thỏa thuận.
  • Đầu tư để làm tăng giá trị của tài sản thế chấp.
  • Nhận lại tài sản thế chấp do người thứ ba giữ và giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp do bên nhận thế chấp giữ khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp chấm dứt hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.
  • Được bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp là nhà nếu được bên nhận thế chấp đồng ý hoặc theo quy định của luật.
  • Được cho thuê, cho mượn tài sản thế chấp nhưng phải thông báo cho bên thuê, bên mượn biết về việc tài sản cho thuê, cho mượn đang được dùng để thế chấp và phải thông báo cho bên nhận thế chấp biết.
  • Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ với bên nhận thế chấp, bên thế chấp được quyền xóa thế chấp vay ngân hàng, tham khảo bài viết: Cách xóa đăng ký thế chấp đất vay ngân hàng

Quyền và nghĩa vụ của bên nhận thế chấp

Nghĩa vụ của bên nhận thế chấp

  • Căn cứ Điều 322 BLDS 2015 quy định NGHĨA VỤ của BÊN NHẬN THẾ CHẤP:
  • Trả các giấy tờ cho bên thế chấp sau khi chấm dứt thế chấp đối với trường hợp các bên thỏa thuận bên nhận thế chấp giữ giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp.
  • Thực hiện quy trình xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.

Quyền của bên nhận thế chấp

Căn cứ Điều 323 BLDS 2015 quy định QUYỀN của BÊN NHẬN THẾ CHẤP:

  • Xem xét, kiểm tra trực tiếp tài sản thế chấp, nhưng không được cản trở hoặc gây khó khăn cho việc hình thành, sử dụng, khai thác tài sản thế chấp.
  • Yêu cầu bên thế chấp phải cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thế chấp.
  • Yêu cầu bên thế chấp áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo toàn tài sản, giá trị tài sản trong trường hợp có nguy cơ làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị của tài sản do việc khai thác, sử dụng.
  • Thực hiện việc đăng ký thế chấp theo quy định của pháp luật.
  • Yêu cầu bên thế chấp hoặc người thứ ba giữ tài sản thế chấp giao tài sản đó cho mình để xử lý khi bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
  • Giữ giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp trong trường hợp các bên có thỏa thuận, trừ trường hợp luật có quy định khác.

Giải quyết tranh chấp tại Tòa án

Về mặt tố tụng: Các bên có quyền làm đơn khởi kiện nộp tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú (nếu yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu) hoặc nơi có bất động sản là nhà (nếu yêu cầu đòi lại tài sản là nhà). Kèm theo đơn khởi kiện là tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm.

Về mặt nội dung: tranh chấp nhà đang thế chấp ngân hàng có thể xảy ra các trường hợp điển hình sau:

Thứ nhất:
  • Bên thế chấp đã thế chấp nhà cho ngân hàng, sau đó tiến hành giao dịch bán, cho thuê, trao đổi, tặng cho nhà cho bên thứ ba mà không thông báo cho ngân hàng. Đến hạn thanh toán mà bên thế chấp không hoàn thành nghĩa vụ với ngân hàng. Khi ngân hàng xử lý tài sản bảo đảm là căn nhà thì tài sản không còn thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp.
  • Trong trường hợp này, bên bị thiệt hại là ngân hàng và bên thứ ba có thể là ngay tình hoặc không ngay tình. Lúc này, ngân hàng được quyền truy đòi tài sản và được thanh toán theo thứ tự ưu tiên thanh toán quy định tại Khoản 2 Điều 297, Điều 308 BLDS 2015.
  • Ngân hàng cũng có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch giữa bên thế chấp và người thứ ba vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật bởi pháp luật quy định bên thế chấp có nghĩa vụ thông báo cho ngân hàng và phải được sự đồng ý của ngân hàng khi thực hiện việc chuyển nhượng nhà.
  • Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả; Bên ngay tình trong việc thu lợi tức không phải hoàn trả lại lợi tức đó; Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Thứ hai:
  • Trường hợp giao dịch chuyển nhượng nhà đất bị vô hiệu nhưng bên nhận chuyển nhượng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất và đã thế chấp nhà, quyền sử dụng đất đó cho Ngân hàng theo đúng quy định của pháp luật thì giao dịch thế chấp đó không vô hiệu (tiểu mục 1, Mục II Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/04/2019).

 

Tài sản riêng của vợ chồng sau ly hôn

tai san rieng

Kèm theo yêu cầu xin ly hôn, vợ chồng thường có yêu cầu Tòa án phân chia tài sản khi ly hôn, tài sản của vợ chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng. Trong trường hợp không chứng minh được tài sản riêng thì đương nhiên đó là tài sản chung của vợ chồng.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có nhiều điểm mới so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, trong đó có điểm mới về chế độ tài sản riêng của vợ, chồng. Cụ thể, tại Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng sau ly hôn

  1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
  2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.”

Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nói trên được quy định chi tiết, cụ thể hơn bởi Điều 11 Nghị định 126/2014/NĐ-CP:

“Điều 11. Tài sản riêng khác của vợ, chồng theo quy định của pháp luật

  1. Quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ.
  2. Tài sản mà vợ, chồng xác lập quyền sở hữu riêng theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác.
  3. Khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng.”

Như vậy, pháp luật công nhận vợ, chồng có quyền có tài sản riêng.

Khi giải quyết thủ tục ly hôn có tranh chấp tài sản hoặc sau khi đã ly hôn mà chưa giải quyết tài sản, Tòa án căn cứ xác định tài sản riêng của vợ hoặc chồng bao gồm:

– Tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn;

– Tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân;

– Tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cụ thể: “Khi hôn nhân tồn tại, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thoả thuận được thì có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.” và “Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng”.

Pháp luật cũng quy định vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung. Việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng; tài sản được nhập vào tài sản chung mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì thỏa thuận phải bảo đảm hình thức đó; nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung được thực hiện bằng tài sản chung, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Liên quan đến vẫn đề chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, Luật hôn nhân và gia đình 2014 cũng quy định rõ hơn so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Quy định Vợ, chồng có các nghĩa vụ riêng về tài sản trong các trường hợp: Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn; nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định tại khoản 4 Điều 44 hoặc quy định tại khoản 4 Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình 2014; nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình; nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng.

Nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung được thực hiện bằng tài sản chung, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Lưu ý: Đối với những tài sản có tranh chấp, nếu người vợ hoặc người chồng không có căn cứ chứng minh đó là tài sản riêng của mình thì đương nhiên được coi là tài sản chung của vợ chồng.

 

Tranh chấp kết quả bán đấu giá tài sản

tranh chap dau gia tai san

Quy định về thẩm quyền Tòa án theo vụ việc có quy định tại khoản 13 Điều 26 BLTTDS năm 2015 là “Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự”. Riêng nội hàm của khoản 13 này đã có việc hiểu khác nhau. Trong thực tiễn xét xử cũng có nhận thức khác nhau về chủ thể có quyền khởi kiện đối với loại tranh chấp này. Chủ thể có quyền khởi kiện yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá, theo quy định của Luật Thi hành án dân sự chỉ là Chấp hành viên và người mua được tài sản bán đấu giá nhưng theo quy định của Luật Đấu giá tài sản thì chủ thể được quyền khởi kiện rộng hơn nhiều.

1.Phân biệt giao dịch bán đấu giá tài sản thông thường với bán đấu giá tài sản bị cưỡng chế thi hành án

1.1. Bán đấu giá tài sản thông thường

Đấu giá tài sản cũng là một loại hợp đồng mua bán tài sản. Đây là loại hợp đồng mua bán đặc biệt, khác với hợp đồng mua bán thông thường ở khâu xác định giá của tài sản. Việc xác định thỏa thuận về giá có sự tham gia của nhiều người mua, theo một trình tự quy định bảo đảm cho việc xác định giá bán cao nhất có thể.

Xác định giao dịch đấu giá tài sản là loại hợp đồng mua bán tài sản là để áp dụng đúng pháp luật để giải quyết tranh chấp. Là một loại hợp đồng thì phải áp dụng pháp luật chung về hợp đồng, những vấn đề có quy định riêng thì mới áp dụng quy định riêng.

Tại BLDS năm 1995, trong chương “Hợp đồng dân sự thông dụng” có Mục 1 quy định về “Hợp đồng mua bán tài sản”, trong Mục 1 có Phần III là “Một số quy định riêng về mua bán tài sản”. Trong Phần III này có 4 điều quy định về đấu giá tài sản là:

– Điều 452. Bán đấu giá;

– Điều 453. Thông báo bán đấu giá;

– Điều 454. Thực hiện bán đấu giá;

– Điều 455. Bán đấu giá bất động sản.

Tại BLDS năm 2005 cũng có quy định về bán đấu giá tài sản với 4 điều luật, có nội dung như quy định tại BLDS năm 1995. Tại BLDS năm 2015, chỉ có quy định một điều về bán đấu giá tài sản nhưng cũng nằm trong Mục “Hợp đồng mua bán tài sản” là Điều 451 với nội dung:

“Tài sản có thể được đem bán đấu giá theo ý chí của chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật. Tài sản thuộc sở hữu chung đem bán đấu giá phải có sự đồng ý của tất cả các chủ sở hữu chung, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Việc bán đấu giá tài sản phải đảm bảo nguyên tắc khách quan, công khai, minh bạch, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia và được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản”.

Sở dĩ trong BLDS năm 2015 chỉ còn quy định tại một điều có tính nguyên tắc, dẫn chiếu đến pháp luật về đấu giá tài sản vì theo chương trình xây dựng pháp luật thì Luật Đấu giá tài sản sẽ được thông qua ngay sau BLDS năm 2015. Luật Đấu giá tài sản đầu tiên là Luật Đấu giá tài sản năm 2016, có hiệu lực từ 01/7/2017. Trước khi có Luật Đấu giá tài sản năm 2016, pháp luật về đấu giá tài sản là BLDS năm 2005 và Nghị định 17/2010/NĐ-CP ngày 14/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản.

Các phân tích ở trên cho thấy bán đấu giá tài sản thông thường cũng là một loại hợp đồng mua bán tài sản nên tranh chấp về bán đấu giá tài sản thông thường là loại “Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự” quy định tại khoản 3 Điều 26 BLTTDS năm 2015.

1.2. Bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự

Trong thực tế xét xử, có việc hiểu sai quy định tại khoản 13 Điều 26 BLTTDS, cho rằng tranh chấp về kết quả bán đấu giá quy định tại khoản 13 cũng là tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản thông thường. Theo lời văn của Điều luật, cần phải hiểu quy định tại khoản 13 bao gồm hai loại tranh chấp là:

– Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự;

– Tranh chấp về thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Như vậy, việc bán đấu giá tài sản để thi hành án là khác với bán đấu giá thông thường, tranh chấp về kết quả bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự là tranh chấp quy định tại khoản 13 Điều 26, khác với tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản thông thường quy định tại khoản 3 Điều 26 BLTTDS.

Tuy nhiên, không phải tất cả các trường hợp bán đấu giá trong giai đoạn thi hành án là là bán đấu giá thuộc trường hợp quy định tại khoản 13 Điều 26 BLTTDS. Nếu các đương sự tự nguyện thi hành án, trong đó có việc đưa tài sản ra bán đấu giá thì việc đấu giá đó vẫn là đấu giá thông thường vì người có tài sản đấu giá vẫn là các đương sự chứ không phải là Chấp hành viên; quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong giao dịch bán đấu giá vẫn như các trường hợp bán đấu giá thông thường khác. Chỉ trong trường hợp bán đấu giá do cưỡng chế thi hành án thì mới là đấu giá quy định tại khoản 13 Điều 26 vì khác biệt cơ bản của trường hợp bán đấu giá này là người có tài sản bán đấu giá là Chấp hành viên, chủ sở hữu tài sản đã mất quyền là người có tài sản bán đấu giá, mất quyền là bên bán trong giao dịch mua bán tài sản.

Nếu đã hết thời gian ấn định để tự nguyện thi hành án mà các đương sự không tự nguyện thi hành, Cơ quan thi hành án đã có quyết định cưỡng chế thi hành án (kể cả trường hợp chưa có quyết định cưỡng chế nhưng đã có quyết định bảo đảm thi hành án) thì những người thừa kế không còn quyền ký hợp đồng thuê dịch vụ đấu giá nữa. Trường hợp này, người ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức bán đấu giá là Chấp hành viên, người được coi là người có tài sản đấu giá là Chấp hành viên. Tranh chấp về kết quả bán đấu giá trong trường hợp này là tranh chấp về kết quả bán đấu giá theo quy định của pháp luật thi hành án, thuộc trường hợp quy định tại khoản 13 Điều 26 BLTTDS.

2.Chủ thể có quyền khởi kiện về kết quả bán đấu giá tài sản bị cưỡng chế thi hành án (khoản 13 Điều 26 BLTTDS)

2.1. Quy định khác nhau về chủ thể có quyền khởi kiện.

Trong trường hợp tranh chấp bán đấu giá thông thường thì cũng như các tranh chấp hợp đồng khác, chủ thể có quyền khởi kiện là các bên tham gia hợp đồng, đó là bên bán, bên mua của hợp đồng bán đấu giá. Trong giao dịch mua bán tài sản đấu giá, bên bán là “Người có tài sản đấu giá”, bên mua là “Người tham gia đấu giá”. Người có tài sản bán đấu giá được quy định tại khoản 5 Điều 5 Luật Đấu giá tài sản là “cá nhân, tổ chức sở hữu tài sản, người được chủ sở hữu tài sản ủy quyền bán đấu giá tài sản hoặc người có quyền đưa tài sản ra đấu giá theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật”. Người tham gia đấu giá được quy định tại khoản 7 Điều 5 Luật Đấu giá là “cá nhân, tổ chức có đủ điều kiện tham gia đấu giá để mua tài sản đấu giá theo quy định”. Trong số những người tham gia đấu giá thì có “Người trúng đấu giá” và “Người mua được tài sản đấu giá”. Người trúng đấu giá theo quy định tại khoản 8 Điều 5 Luật Đấu giá tài sản là “cá nhân, tổ chức trả giá cao nhất so với giá khởi điểm hoặc bằng giá khởi điểm trong trường hợp không có người trả giá cao hơn giá khởi điểm khi đấu giá theo phường thức trả giá lên; cá nhân, tổ chức chấp nhận mức giá khởi điểm hoặc mức giá đã giảm trong trường hợp đấu giá theo phương thức đặt giá xuống”. Người mua được tài sản trúng đấu giá theo quy định tại khoản 6 Điều 5 Luật Đấu giá tài sản là “người trúng đấu giá và ký kết hợp đồng mua bán tài sản đấu giá hoặc được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt kết quả đấu giá tài sản”.

Tất cả các chủ thể tham gia vào giao dịch bán đấu giá tài sản thông thường nêu ở trên đều có quyền khởi kiện tranh chấp về giao dịch mà họ đã tham gia. Ngoài các chủ thể này, đấu giá viên và tổ chức đấu giá tài sản cũng có quyền khởi kiện yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá. Đấu giá viên và tổ chức đấu giá tài sản (nơi quản lý đấu giá viên) không phải là các bên tham gia hợp đồng mua bán đấu giá tài sản nhưng cũng như công chúng viên và tổ chức hành nghề công chứng, họ có trách nhiệm về giao dịch mà họ tham gia, phải bồi thường thiệt hại nếu có vi phạm và gây thiệt hại nên cũng có quyền khởi kiện yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá.

Như vậy, trong trường hợp tranh chấp về hợp đồng mua bán đấu giá thông thường (là loại tranh chấp quy định tại khoản 3 Điều 26 BLTTDS) sẽ có rất nhiều chủ thể được quyền khởi kiện như nêu ở trên. Tuy nhiên, đối với yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá tài sản bị cưỡng chế thi hành án (là loại tranh chấp quy định tại khoản 13 Điều 26 BLTTDS) thì chủ thể có quyền khởi kiện được quy định tại khoản 2 Điều 102 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) là: “Người mua được tài sản bán đấu giá, Chấp hành viên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về kết quả bản đấu giá tài sản, nếu có căn cứ chứng minh có vi phạm trong quá trình bán đấu giá tài sản”.

Có quan điểm cho rằng quy định tại Điều 102 Luật Thi hành án dân sự là quy định thêm chủ thể được quyền khởi kiện chứ không phải chỉ có người mua được tài sản bán đấu giá và Chấp hành viên mới có quyền khởi kiện. Quan điểm này không có cơ sở vì “Người mua được tài sản bán đấu giá” vẫn là chủ thể luôn được xác định là có quyền khởi kiện về yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá chứ không phải đến Luật Thi hành án dân sự mới quy định thêm.

Cũng cần lưu ý là Luật Thi hành án dân sự năm 2008 chưa sửa đổi thì quy định chủ thể có quyền khởi kiện hủy kết quả bán đấu giá là “Đương sự, Chấp hành viên”. Đương sự được quy định tại khoản 1 Điều 3 là người được thi hành án và người phải thi hành án. Như vậy, đối tượng được quyền khởi kiện tranh chấp về kết quả bán đấu giá của luật chưa sửa đổi cũng rộng hơn nhiều so với luật hiện hành. Vậy tại sao lại có sự sửa đổi không cho đương sự thi hành án, trong đó có người chủ sở hữu tài sản được quyền khởi kiện về việc bán tài sản của họ. Để giải đáp vấn đề này, cần nghiên cứu về vấn đề giải quyết khiếu nại và bồi thường của Nhà nước đối với thi hành án.

2.2. Quy định về giải quyêt khiếu nại thi hành án và bồi thường của Nhà nước về thi hành án

Theo quy định quyền khiếu nại về thi hành án tại Điều 140 Luật Thi hành án dân sự thì: “Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên nếu có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”.

Tại Điều 142 quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại về thi hành án quy định các cấp giải quyết khiếu nại là:

– Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện;

– Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh;

– Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp;

– Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

Đối với quyết định, hành vi thi hành án dân sự trong quân đội thì quy định các cấp giải quyết khiếu nại là:

– Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu;

– Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng;

– Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Các quyết định thi hành án, hành vi thi hành án của Thủ trưởng cơ quan thi hành án, của Chấp hành viên, các quyết định giải quyết khiếu nại về thi hành án không phải là các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính. Do đó, Tòa án không có thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính mà đối tượng là các quyết định về thi hành án dân sự và quyết định giải quyết khiếu nại các quyết định ấy.

Người bị thiệt hại do quyết định thi hành án, hành vi thi hành án vi phạm pháp luật được bồi thường theo quy định của pháp luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Theo quy định tại Điều 52 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 thì “Trong thời hạn 3 năm kể từ ngày nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, người yêu cầu bồi thường có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường…”. Như vậy, yêu cầu bồi thường theo pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được giải quyết theo thủ tục vụ án dân sự nhưng Tòa án không phán quyết về những vi phạm hay không vi phạm của cơ quan nhà nước mà giải quyết vụ án bồi thường trên cơ sở đã có “văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường”. Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự được quy định tại Điều 12 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017. Trong các văn bản quy định tại Điều 12 có các văn bản như: quyết định giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự (khoản 2); quyết định hủy, thu hồi, sửa đổi, bổ sung quyết định thi hành án vì quyết định đó được ban hành trái pháp luật (khoản 3); quyết định xử lý kỷ luật người thi hành công vụ do có hành vi trái pháp luật (khoản 6)…

2.3. Xác định chủ thể có quyền khởi kiện về kết quả bán đấu giá tài sản bị cưỡng chế để thi hành án

Quy định không cho các đương sự thi hành án, bao gồm cả chủ sở hữu tài sản được quyền khởi kiện yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá tài sản bị cưỡng chế thi hành án có cơ sở pháp lý là họ đã được hưởng quyền khiếu nại, tố cáo theo pháp luật thi hành án dân sự và được quyền yêu cầu bồi thường theo pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Tài sản bị bán đấu giá do cưỡng chế thi hành án là việc bán có sự can thiệp bằng quyền lực nhà nước, không còn hoàn toàn bình đẳng như các giao dịch dân sự khác. Bên bán không còn là chủ tài sản mà bên bán là Chấp hành viên nên trách nhiệm của người bán phải gắn với trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Quy định chỉ cho Chấp hành viên và người mua được tài sản bán đấu giá được quyền khởi kiện còn có cơ sở thực tiễn là: Người có tài sản bị cưỡng chế thi hành án là do họ chây ì không tự nguyện thi hành, thường là người đang quản lý tài sản. Do vậy, họ luôn có xu hướng muốn kéo dài việc tiếp tục quản lý, sử dụng tài sản bằng mọi cách. Nếu cho người có tài sản được quyền khởi kiện hủy kết quả bán đấu giá thì hầu như họ đều khởi kiện để kéo dài việc thi hành án, gây thiệt hại cho những người có quyền lợi hợp pháp khác.

Quy định chỉ có Chấp hành viên và người mua được tài sản bán đấu giá được quyền khởi kiện là quy định riêng cho trường hợp đặc biệt là bán đấu giá tài sản bị cưỡng chế thi hành án. Đây là hai chủ thể đã ký kết hợp đồng mua bán tài sản đấu giá. Nếu có vi phạm dẫn đến giá quá cao, thiệt hại cho bên mua thì bên mua là người mua được tài sản bán đấu giá được quyền khởi kiện là hợp lý. Nếu có vi phạm dẫn đến giá quá thấp, gây thiệt hại cho chủ tài sản (chủ sở hữu hoặc chủ sử dụng đất) và những người được thi hành án thì Chấp hành viên có quyền khởi kiện là hợp lý vì Cơ quan thi hành án và Chấp hành viên sẽ phải bồi thường thiệt hại.

Có quan điểm cho rằng quy định chỉ có Chấp hành viên và Người mua được tài sản bán đấu giá được quyền khởi kiện chỉ có hiệu lực đến thời điểm Luật Đấu giá tài sản có hiệu lực thi hành (01/7/2017) vì Luật Đấu giá tài sản không quy định hạn chế chủ thể khởi kiện như Luật Thi hành án dân sự nữa. Quan điểm này là không đúng. Luật Đấu giá tài sản có phạm vi điều chỉnh cả việc bán đấu giá tài sản thi hành án. Tuy nhiên, Luật đấu giá tài sản không có quy định riêng về chủ thể có quyền khởi kiện trong trường hợp bán đấu giá tài sản bị cưỡng chế thi hành án. Chỉ trong trường hợp luật quy định về cùng một vấn đề thì mới áp dụng quy định của luật ban hành sau (khoản 3 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật). Do đó, quy định tại Điều 102 Luật Thi hành án dân sự vẫn tiếp tục có hiệu lực thi hành đồng thời với Luật Đấu giá tài sản. Khi xem xét việc bán đấu giá tài sản bị cưỡng chế thi hành án có đúng quy định của pháp luật không thì vẫn phải áp dụng Luật Đấu giá tài sản nhưng về quyền khởi kiện yêu cầu hủy kết quả đấu giá này thì vẫn phải áp dụng Điều 102 Luật Thi hành án dân sự.

Tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn

chia tai san chung

Các dạng tranh chấp tài sản sau khi ly hôn.

Khi giải quyết vụ việc ly hôn các bên đương sự có quyền yêu cầu tòa án giải quyết việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Những tranh chấp tài sản sau khi ly hôn bao gồm một số vấn đề sau đây:

– Tranh chấp về việc xác định tài sản riêng;

– Tranh chấp về việc chia tài sản chung;

– Tranh chấp về việc xác định nghĩa vụ tài sản;

– Các tranh chấp khác.

Giải quyết các tranh chấp tài sản sau khi ly hôn

Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn sẽ được giải quyết cùng với yêu cầu ly hôn hoặc được tách ra giải quyết ở một vụ án riêng. Việc chia tài sản sau khi ly hôn của vợ chồng là trường hợp khi ly hôn vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung của hai ngươi. do vậy, khi đả có quyết định, bản án cho ly hôn, một trong hai bên yêu cầu giải quyết, trình tự yêu cầu Tòa giải quyết theo quy định Pháp luật tố tụng dân sự

Đối với vụ án ly hôn mà tại thời điểm ly hôn hai vợ chồng đã có yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp tài sản của vợ chồng. Tranh chấp về tài sản chung có thể là tài sản mà vợ chồng thống nhất là tài sản chung nhưng không thống nhất được cách chia, tài sản mà họ không thống nhất được với nhau là tài sản chung như: tranh chấp do một bên cho rằng là tài sản chung, bên kia thì không….

Khi Tòa án giải quyết xong việc ly hôn với yêu cầu của các bên về phân chia tài sản chung, nếu trong thời hạn kháng cáo mà các bên không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị hoặc kháng cáo quá hạn mà không có lý do chính đáng thì khi Bản án đã có hiệu lực, các bên buộc phải tuân theo sự phán quyết của Tòa án. Trường hợp là tranh chấp tài sản chung của “vợ chồng”, nhưng khi ly hôn, hai bên không yêu cầu phân chia tài sản chung. Khi đó, hai bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tuy nhiên, hiện tại hai bên không còn quan hệ vợ chồng, việc tranh chấp về tài sản ở đây không phải là tranh chấp về hôn nhân gia đình. Trường hợp này, Tòa án sẽ thụ lý và giải quyết như vụ án dân sự thông thường. Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án có trách nhiệm hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để hai bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp tài sản. Nếu hòa giải không thành, Tòa án sẽ thực hiện các thủ tục để đưa vụ án ra xét xử.

Căn cứ pháp luật và nguyên tắc Việc giải quyết tranh chấp tài sản khi ly hôn sẽ được tòa án giải quyết:

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên tự thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 59 và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật hôn nhân gia đình.

“Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
  1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết
     tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của 
    vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản
     2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.
  2. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết
     tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy 
    đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này
     và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.
  3. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
  4. a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
  5. b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối 
    tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có 
    
    thu nhập;
  6. c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề
     nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập
  7. d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
  8. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện
     vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị 
    lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
  9. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài
     sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

  1. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
  2. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.”

Về nguyên tắc thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

  1. a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
  2. b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
  3. c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập
  4. d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
  5. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
  6. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này. Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác
  7. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
  8. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này